QUẺ XĂM BẮC ĐẾ SỐ 37 - XĂM HẠ HẠ

1. Lá xăm

Quẻ xăm background

風冷長江静
魚舟釣月明
一声孤雁過
旅客変悲声

Phong lảnh Trường giang tịnh
Ngư châu điếu nguyệt minh
Nhất thanh cô nhạn quá
Lữ khách biến bi thanh

Gió lạnh sông dài nước lặng yên
Dưới trăng trôi nhẹ một con thuyền
Đơn chiếc bay ngang vang tiếng nhạn
Khách du lòng chợt gợi ưu phiền

2. Giải xăm

Lời bàn: Quẻ này có tích cổ là "Hạng võ bị vây ô giang": Hạng võ không chịu được sự bạo ngược của nhà Tần, cử quân 8000 tại Giang Đông, khi qua sông người theo rất đông, khí thế ngày một lớn mạnh, đánh chiếm Hàm Dương, sức như chẻ núi. Anh hùng cái thế tự phong là Tây Sở Bá Vương, độc đoán tự làm không theo ý mưu sĩ, lại coi thường Lưu Bang. Sau bị vây tại Cai Hạ, bốn phía Sở ca, phải từ biệt vợ là Ngu Cơ, vượt sông đốt thuyền đập nồi mà quyết chiến, 8000 đệ tử không còn ai sống sót. Hạng Võ hỗ thẹn với phụ lão Giang Đông, rút gươm tự vận, thây trôi theo dòng Ô Giang.

- Về Gia đạo: phòng tháng hè có trắc trở, nên cầu Phật Tổ bảo hộ mới được bình an. Bài thơ nói về gia đạo:

無事何須出外遊
恐遭灾盗反成懮
今日切防人口損
望見平安只在秋

Dịch âm:

Vô sự hà tu xuất ngoại du
Khủng tao tai đạo phản thành ưu
Kim nhật thiết phòng nhân khẩu tổn
Vọng kiến bình an chỉ tại thu

Dịch thơ:

Rảnh việc đâu cần ra dạo chơi
Gặp nhiều trộm cướp sợ tơi bời
Nay lại đề phòng người tổn thất
Thu đến an lành mới thảnh thơi

- Về Tuổi mạng: vận tuổi không tốt, như qua sông mà không thuyền, tháng xuân nên cẩn thận đề phòng, qua thu mới bình an. Bài thơ nói về tuổi mạng:

江水無船岂可通
浪波危餓急涛風
出入不疑須守舊
進之難也退無他

Dịch âm:

Giang thuỷ vô thuyền khỉ khả thông
Lãng ba nguy ngạ cấp đào phong
Xuất nhập bất nghi tu thủ cựu
Tiến chi nan dã thoái vô tha

Dịch thơ:

Sông nước không thuyền cứ ngóng trông
Gió lớn sóng cao lại đói lòng
Ra đi không được nên về gấp
Tiến cũng khó khăn lùi chẳng xong

- Về Buôn bán: đầu năm buôn bán gian nan, lại bị tiểu nhân cướp đoạt, giao dịch nên thận trọng, không được nóng dội, qua thu mới tốt. Bài thơ nói về buôn bán:

防失守份心勿慌
交冬有利路不寬
偏財勿取取必失
祷求神力護平安

Dịch âm:

Phòng thất thủ phần tâm vật hoang
Giao đông hữu lợi lộ bất khoang
Thiên tài vật thủ thủ tất thất
Đảo cầu thần lực hộ bình an

Dịch thơ:

Thủ kỷ yên tâm đừng sợ lo
Đường lợi qua thu chẳng rộng to
Của sai đừng lấy cầm là mất
Cầu với thánh thần sẽ giúp cho

- Về Mưu vọng: làm việc tuy tinh thông, nhưng do nóng tính nên trở thất, nên dùng tâm huyết, mưu trí tháng thu đông mới được thành. Bài thơ nói về mưu vọng:

千里于人岂自忘
見他富貴忽忙忙
伊君若要求名利
一且烏江見項王

Dịch âm:

Thiên lý vu nhân khỉ tự vong
Kiến tha phú quí hốt mang mang
Y quân nhược yếu cầu danh lợi
Nhất đán Ô Giang kiến Hạng Vương

Dịch thơ:

Lẽ trời người lại chóng quên ngay
Thấy kẻ sang giàu đừng đổi thay
Nếu như còn ý cầu danh lợi
Hạng Võ Ô Giang gặp có ngày

- Về Lục xúc: nuôi heo dê có trở thất, đã lớn mau bán gấp, gắng chuyên tâm nuôi, cầu đất đai phò hộ. Bài thơ nói về lục xúc:

當時明月被雲披
時運未通勿養猪
切切忍耐心頭事
守份安貧待明時

Dịch âm:

Đương thời minh nguyệt bị vân phi
Thời vận vị thông vật dưỡng trư
Thiết thiết nhẫn nại tâm đầu sự
Thủ phận an bần đãi minh thì

Dịch thơ:

Trăng sáng mây che lớp lớp treo
Chưa thông thời vận chớ nuôi heo
Mọi việc khắc lòng luôn nhẫn nại
An phận đợi thời phải chịu nghèo

- Về Người đi xa: người đi tài vận không thông, có tiểu nhân gây trở ngại, nên tin tức chậm về, cầu phật bà phò hộ sớm có tin. Bài thơ nói về người đi xa:

遠千里尺只無緣
沉魚杳雁苦難煎
慢勞回首旨光日
去客淹留在路邊

Dịch âm:

Viễn thiên lý xích chỉ vô duyên
Trầm ngư tra nhạn khổ nan tiền
Mạn lao hồi thủ chỉ quang nhật
Khứ khách yêm lưu tại lộ biên

Dịch thơ:

Trước mặt vô duyên ngàn dặm xa
Bóng chim tăm cá khổ chăng là
Quay về ý muốn ngày tươi sáng
Nhưng còn trên lộ mãi bôn ba

- Về Hôn nhân: Thời giờ chưa đến, hôn nhân khó thành, nhẫn nại đối phó, trời không phụ người lành. Bài thơ nói về hôn nhân:

眼前心事欲便成
岂知本命不相稱
如今只要尋佳偶
且待黄河幾度清

Dịch âm:

Nhãn tiền tâm sự dục tiện thành
Khỉ tri bổn mạng bất tương xưng
Như kim chỉ yếu tầm giai ngẫu
Thả đãi Hoàng Hà kỷ độ thanh

Dịch thơ:

Trước mắt nợ duyên nghĩ đã xong
Bổn mạng ai ngờ chẳng hợp thông
Duyên tốt muốn tìm xin tạm đợi
Hoàng Hà cuồn cuộn lúc nào trong

- Về Kiện tụng: Hoà là quí, nếu kiện e bị vướng tù lao, quay về chờ đợi, mặc cho người gây sóng gió. Bài thơ nói về kiện tụng:

岂知文字入官凶
恐被連干入禁中
不若抽身歸去好
任他風雨変西東

Dịch âm:

Khởi tri văn tự nhập quan hung
Khủng bị can liên nhập cấm trung
Bất nhược trừu thân qui khứ hảo
Nhậm tha phong vũ biến tây đông

Dịch thơ:

Đơn viết tới quan để kiện thưa
Liên can tù tội gấp nên chừa
Chi bằng rút lại về chờ đợi
Mặc khắp đông tây chịu gió mưa

- Về Thất vật: Đồ mất khó về, bởi thời vận xui rủi, đừng qua tiếc của mà hai sức khoẻ. Bài thơ nói về thất vật:

失却分明在海邊
欲尋因只汝無緣
歸家何把事心想
敢教時乖勿怨天

Dịch âm:

Thất khước phân minh tại hải biên
Dục tầm nhân chỉ nhữ vô duyên
Qui gia hà bả sự tâm tưởng
Cảm giáo thời quai vật oán thiên

Dịch thơ:

Bãi biển rõ ràng đã đánh rơi
Tìm mãi nhưng do chẳng gặp thời
Về nhà tiếc của lòng ray rức
Đã bảo vận xui chớ oán trời

- Về Đoán bệnh: bệnh có thầy mà không thuốc, thánh thần cũng khó trị được, nên cúng tống ôn dịch, cầu được bình an. Bài thơ nói về đoán bệnh:

有方無葯病難安
問聖求神改病端
趁早歸家修善福
不教添苦又添寒

Dịch âm:

Hữu phương vô dược bệnh nan an
Vấn thánh cầu thần cải bệnh đoan
Sấn tảo qui gia tu thiện quả
Bất giao thiêm khổ hựu thiêm hàn

Dịch thơ:

Có thầy không thuốc bệnh nào an
Cầu với thánh thần hỏi rõ ràng
Quay về nên sớm lo làm phước
Khổ lạnh bảo sao chịu nặng mang